Tác giả: Trịnh Minh Giang
5. Đảm bảo tính toàn vẹn của giao
dịch:
TMĐT cuối cùng liên quan tới trình duyệt của khách hàng gửi
thông tin thanh toán, thông tin đặt hàng và hướng dẫn thanh toán cho server
thương mại và server thương mại hồi đáp bằng một sự xác nhận điện tử về chi tiết
của đơn đặt hàng. Nếu người truy cập vào Internet thay đổi bất kỳ thông tin nào
về đơn đặt hàng trên đường , thì cũng có thể gây ra những hậu quả có hại. Ví dụ,
thủ phạm có thể thay đổi địa điểm nhận hàng hoặc số lượng để anh ta nhận được
hàng thay vì khách hàng gốc. Đó là một ví dụ về sự vi phạm tính hoàn toàn có thể
xảy ra bất cứ khi nào một thông báo bị thay đổi trong quá trình chuyển từ người
gửi tới người nhận.
Trong khi việc ngăn chặn thủ phạm thay đổi thông báo
rất khó khăn và tốn kém thì cũng có các công nghệ bảo mật mà cho phép người nhận
phát hiện ra khi nào bức thông báo đã bị thay đổi. Thí dụ khi người nhận là
server thương mại nhận được một thông báo sai lệch thì chỉ cần yêu cầu người gửi
chuyển lại thông báo. Một phần là do phiền hà, vả lại cũng không ai bị ảnh hưởng
bởi thông báo sai lệch khi mà cả hai bên đều nhận thấy được sự thay đổi đó. Sự
phá hoại xảy ra khi những thay đổi của thông báo sai lệch đó không bị phát hiện
trong thông báo của người nhận.
Sự kết hợp giữa các công nghệ tạo ra
những thông tin báo mà là cả chống trộm cắp và được xác nhận. Để loại bỏ sự gian
lận và lạm dụng do thông báo về thương mại đã bị thay đổi gây ra, hai thuật toán
riêng đã được áp dụng đối với thông báo. Đầu tiên, một thuật toán lộn xộn được
áp dụng cho thông báo. Thuật toán lộn xộn là những chức năng một chiều, nghĩa là
không có cách để thay đổi giá trị lộn xộn trở lại thông báo gốc. Đây là một điều
tốt do một giá trị lộn xộn chỉ được so sánh với một giá trị lộn xộn khác để tìm
xem liệu chúng là một. MD5 là một ví dụ của thuật toán lộn xộn được sử dụng rộng
rãi trong TMĐT. Ron Rivest đã phát triển thuật toán MD5, giữa các thuật toán
khác. Một thuật toán lộn xộn có những đặc điểm sau: nó không sử dụng chìa khoá
bí mật, việc phân loại thông báo mà nó đưa ra không thể đảo ngược để đưa ra
thông tin gốc, thuật toán và thông tin về việc nó làm việc như thế nào là có giá
trị rộng và các xung đột lộn xộn gần như là không thể.
Một chức năng lộn
xộn tính toán giá trị lộn xộn của thông báo, rằng giá trị bị buộc vào thông báo.
Giả sử thông báo là một đơn đặt hàngmua bán bao gồm địa chủ của khách hàng và
thông tin về việc thanh toán. Khi người kinh doanh nhận được đơn đặt hàng và tài
liệu thông báo gửi kèm, họ tính toán tài liệu của bản thông báo cho bản thông
báo (trừ những tài liệu thông báo gửi kèm). Nếu giá trị tài liệu của thông báo
mà người kinh doanh tính toán phù hợp với tài liệu thông báo được gửi kèm, khi
đó người kinh doanh biết thông báo không bị thay đổi. Nghĩa là, không có người
xâm phạm nào thay đổi tổng số hoặc thông tin về địa chỉ nhận hàng. Khi thông tin
bị thay đổi bởi sự xâm nhập vào Internet, người kinh doanh sẽ tính toán tài liệu
thông báo mà khác so với tài liệu thông báo mà khách hàng tính toán và gửi cùng
với đơn đặt hàng.
Tuy nhiên không có vấn đề gì khác. Do thuật toán phức
tạp được biết một cách rộng rãi, bất kỳ người nào cũng có thể chặn đơn đặt hàng,
thay đổi địa chỉ nhận hàng, số lượng đặt hàng tạo mới tài liệu thông báo và gửi
thông báo và tài liệu thông báo mới đến cho người kinh doanh. Ngay khi nhận
được, người kinh doanh sẽ tính toán tài liệu thông báo và xác nhận rằng hai tài
liệu thông báo khớp với nhau. Người kinh doanh đã bị lừa trong kết luận rõ ràng
rằng thông báo là trọn vẹn và xác thực. Để ngăn chặn sự lừa gạt kiểu này, người
gửi mã hoá tài liệu thông báo sử dụng chìa khoá cá nhân của họ.
Tài liệu
thông báo bị mã hoá được gọi là chữ ký số. Đơn đặt hàng đi kèm với chữ ký số đưa
cho người kinh doanh sự xác minh rõ ràng về người gửi và đảm bảo với người kinh
doanh rằng thống báo không bị thay đổi. Làm thế nào mà chữ ký cho thấy cả tính
toàn vẹn của thông báo và sự xác nhận về khách hàng. Do tài liệu thông báo được
mã hoá sử dụng phương pháp kỹ thuật chìa khoá cá nhân, có nghĩa là chỉ người sở
hữu một cặp chìa khoá cá nhân/ công cộng có thể mã hoá tài liệu thông báo. Do
đó, khi người kinh doanh giải mã thông báo bằng chìa khoá công cộng của người sử
dụng và rồi thì tính toán sự phù hợp với giá trị của tài liệu thông báo, kết quả
được chứng minh rằng người gửi là hợp pháp. Nếu cần thiết, cả hai bên có thể
đồng ý để đưa ra tính bảo mật của giao dịch cùng với tính xác thực và toàn diện
mà chữ ký số đưa ra. Đồng thời sử dụng cả mã hoá chìa khoá công cộng, tài liệu
thông báo và chữ ký số đảm bảo sự bí mật về chất lượng của các giao dịch trên
Internet.
6. Bảo vệ server thương mại:
Sự bảo vệ tính
bảo mật được mô tả trong phần trước xoay quanh sự bảo vệ máy tính của khách hàng
và sự bảo vệ giao dịch thương mại trên Internet hoặc kênh thương mại. Trong khi
số lượng lớn các cuộc tranh luận về vấn đề bảo mật là về vấn đề bảo vệ Internet
khỏi các hacker và những người xâm phạm, có rất ít cuộc thảo luận về việc bảo vệ
những trọng điểm cảm tính cũng như lý tính của TMĐR-server TMĐT và các server có
liên quan kết nối cùng với nó. Server thương mại, cùng với Web server đối phó
với những yêu cầu từ trình duyệt Web thông qua giao thức HTTP và tập các chỉ
lệnh CGI. Một số mảng của phần mềm gồm bộ phần mềm server thương mại và tất cả
gói phần mềm phải được xem xét một cách riêng biệt và tổng thể khi bạn muốn hoàn
thiện một hình thức bảo mật. Phần mềm gồm server thương mại điển hình gồm cả
server FTP, Web server, mail server, server của truy nhập từ xa và các hệ thống
hoạt động trên máy chủ. FTP server làm cho việc chuyển những phần mềm hàng hoá
(soft goods) đến người tiêu dùng được dễ dàng. Các e-mail server phục vụ thư
điện tử đến và đi trong tập đoàn. Các Web server quản lý những yêu cầu về Web
của khách hàng. Server truy cập từ xa cho phép phạm trù nhân sự có thể log-on từ
xa tới các tập đoàn máy tính để thực hiện một số nhiệm vụ. Tất nhiên, mỗi phần
của phần mềm trong server thương mại có một hệ thống hoạt động cơ bản mà thực
hiện các dịch vụ rất cơ bản mà tất cả các chương trình phần mềm thương mại yêu
cầu.
6.1. Kiểm soát và xác minh việc truy nhập:
Kiểm soát và
xác minh việc truy nhập nghĩa là kiểm soát người và những gì truy cập vào trong
server thương mại. Như bạn dã biết thì việc chứng minh tính chân thực của thực
thể muốn truy cập máy tính chủ yếu thông qua giấy chứng nhận số. Chỉ khi người
dùng có thể xác minh server với người mà họ đang tham gia hoạt động, server có
thể xác minh được từng cá nhân sử dụng. Khi server yêu xác nhận của máy khách và
người sử dụng của minh thì server đó yêu cầu client đó phải gửi giấy chứng nhận
và server có thể xác minh người sử dụng bằng nhiều cách. Đầu tiên, giấy chứng
nhận đưa ra sự bảo đảm đã được chấp nhận của người sử dụng. Nếu server không thể
giải mã chữ ký số của người sử dụng trong giấy chứng nhận bằng việc sử dụng chìa
khoá cá nhân của người sử dụng, thì giấy chứng nhận không phải đến từ người sở
hữu thực. Ngược lại, thì server có thể xác định được chắc chắn rằng giấy chứng
nhận đến từ người sở hữu. Thủ tục này ngăn chặn được những giấy chứng nhận có
gian lận được nhập vào server bảo mật. Thứ hai, server kiểm tra dấu thời gian
của giấy chứng nhận để đảm bảo rằng giấy chứng nhận không quá hạn. Server sẽ
không nhận một giấy chứng nhận đã hết hạn và sẽ ngừng cung cấp dịch vụ. Ngày
giấy chứng nhận còn hiệu lực cho phép cơ quan chứng nhận phát hành giấy chứng
nhận không vượt quá niềm tin củachủ sở hữu giấy chứng nhận đó. Vì thế, nếu một
người hoặc một công ty được chứng nhận trước đây bị mang tiếng vì bất kỳ lý do
gì thì chứng nhận sẽ không có giá trị vô hạn. Giấy chứng nhận hết hạn có thể bị
ăn trộm hoặc bị vứt bỏ vừa bãi tạo điều kiện cho những kẻ lừa đảo có cơ hội lấy
lại từ những thùng rác số (digital trash basket). Thứ ba, một server có thể sử
dụng hệ thống gọi là"callback"(hệ thống gọi lại) trong đó tên và địa chỉ máy
tính khách hàng của người dùng được kiểm tra với danh sách tên người dùng và địa
chỉ máy tính khách hàng đã được ấn định.
Công việc này đặc biệt là rất có
ích trong phạm vi của intranet nơi mà tên người sử dụng và máy tính khách hàng
được quản lý chặt chẽ và được chỉ định một cách có hệ thống. Trên Internet thì
quản lý công việc này rất phức tạp, đặc biệt là nếu client của người sử dụng là
lưu động và được thực hiện tại các địa điểm khác nhau. Trong nhiều bất cứ một
trường hợp nào thì bạn cũng có thể thấy cách CA cấp giấy chứng nhận đóng vai trò
trung tâm trong việc xác nhận máy khách và người sử dụng chúng. Giấy chứng nhận
đưa ra thuộc tính, bằng chứng không thể phủ nhận nếu xảy ra hiện tượng vi phạm
bảo mật.
Tên người dùng và mật khẩu đã được sử dụng từ thập kỷ trước để đưa
ra một số yếu tố bảo vệ cho server thông qua bằng chứng và sự nhận diện gần như
là an toàn. Bạn sử dụng mật khẩu hàng ngày cho việc truy cập e-mail server của
bạn, vào Telnet, vào trường đại học hoặc máy tính của công ty và để log-on vào
các dịch vụ đăng ký như E*Trade trên Internet. Đối với những người sử dụng hợp
pháp dùng tên và mật khẩu, server phải thu được và lưu trữ cơ sở dữ liệu của
người sử dụng đúng gồm tên và mật khẩu của họ. Hệ thống này thường cho phép
người dùng được nhập vào hoặc bị loại, và nó đưa ra một phương tiện dễ dàng để
thay đổi mật khẩu. Hầu hết các hệ thống hiện đại, đặc biệt là đẩy lên Internet,
đưa ra một mẫu hướng dẫn người sử dụng gợi lại bộ nhớ trong trường hợp bạn quên
mật khẩu. Thông thường bạn có thể tìm lại được mật khẩu bị quên bằng cách yêu
cầu server gửi cho bạn mật khẩu, mặc dù điều này yêu cầu rằng bạn có một trương
mục e-mail ngoài hệ thống để bạn có thể truy cập. Nếu không, gửi mật khẩu đến
một trương mục mà bạn không thể truy cập là trường hợp tiến thoái lưỡng
nan.
Rất nhiều hệ thống Web server lưu giữ tên và mật khẩu trong một file
phẳng, tính đến thời gian và chi phí cần thiết để thiết lập một cơ sở dữ liệu
quy mô đầy đủ rất ít khi lưu trữ tên. Các trang Web thương mại lớn không có vẻ
như là sẽ không lưu cả tên sử và mật khẩu của bạn trong một file phẳng. Bạn có
thể tin rằng các trang thương mại lớn sử dụng các tiềm năng công nghệ cơ sở dữ
liệu để xử lý các sản phẩm của họ. Việc sử dụng cơ sở dữ liệu tương tự để lưu
trữ những người dùng ưu tiên cũng như tên người dùng và mật khẩu là có ý nghĩa.
Làm ngược lại sẽ gây ra sự chậm chễ lớn với hàng nghìn người sử dụng đang cố
gắng để log-on đồng thời.
Liên quan về việc thông tin để truy cập được
lưu giữ ở đâu, cách phổ biến và an toàn nhất để cất giữ mật khẩu, phương pháp sử
dụng hệ thống UNIX, là lưu giữ tên trong một văn bản rõ ràng và mã hoá mật khẩu.
Khi bạn hoặc hệ thống tạo ra một tên và mật khẩu đi kèm mới, mật khẩu được mã
hoá sử dụng thuật toán mã hoá một chiều, những thuật toán tương tự với các thuật
toán đưa ra các tài liệu thông báo mà bạn có thể đọc một cách rõ ràng. Với một
văn bản rõ ràng lưu trữ tên và mật khẩu, hệ thống có thể xác nhận tính hợp lệ
của người dùng, khi họ log on, bằng việc kiểm tra tên mà họ nhập với danh sách
người dùng được lưu giữ trong cơ sở dữ liệu. Khi người sử dụng nhập mật khẩu vào
một hệ thống thì mật khẩu đó đã được mã hoá. Sau đó mật khẩu đã được mã hoá của
người sử dụng được kiểm tra lại với mật khẩu mã hoá được lưu trữ trong cơ sở dữ
liệu. Nếu hai phiên bản được mã hoá của mật khẩu trùng với một người sử dụng
nhất định, việc truy cập được chấp nhận. Đó là lý do tại sao thậm chí mà một nhà
quản lý hệ thống không thể định ra được một mật khẩu đã bị quên trong hệ điều
hành UNIX, thay vào đó, nhà quản lý đơn giản chỉ định một mật khẩu tạm thời mà
bạn có thể thay đổi sang một mật khẩu khác tuỳ chọn.
Như bạn đã biết, mật
khẩu không hoàn toàn rõ ràng và bất kỳ người nào định đánh cắp mật khẩu có thể
hiểu cách để làm như vậy. Tuy nhiên, tên và mật khẩu là một vũ khí trong cuộc
chiến bảo mật. Hãy lưu ý rằng bạn có thể giữ riêng tên sử dụng và mật khẩu như
một cookie riêng trong máy của bạn. Điều đó cho phép bạn truy cập vào bất kỳ một
trang Web nào mà không cần nhập tên và mật khẩu vào trang Web tương ứng. Vấn đề
với hệ thống cookie đó là các thông tin được lưu trong máy tính của bạn dưới
dạng một văn bản cụ thể. Nếu như một cookie có thông tin về log-in và mật khẩu
thì thông tin đó có thể tạo điều kiện cho bất kỳ ai quan tâm có thể in ra những
cookie lưu trong máy của bạn.
Web server thường đưa ra danh sách kiểm
soát truy cập bảo mật để hạn chế file truy cập đến người sử dụng được lựa chọn.
Danh sách kiểm soát việc truy cập (ACL) là một danh mục hoặc các file cơ sở dữ
liệu, các nguồn cơ sở dữ liệu khác và tên của người có thể truy cập các file và
nguồn khác. Mỗi file có danh mục quản lý việc truy cập riêng, bất kỳ thời gian
nào máy tính khách hàng yêu cầu Web server truy cập vào một file hoặc văn bản đã
được định hình để yêu cầu kiểm tra việc truy cập, Web server kiểm tra file ACL
của nguồn để xác định xem liệu người sử dụng được phép truy cập file này hay
không. Hệ thống này hoàn toàn thuận tiện trong việc hạn chế việc truy cập vào
file trên Intranet server để các cá nhân có thể truy cập vào các file lựa chọn
dựa trên cơ sở- nhu cầu- cần biết. Web server có thể thực hiện việc quản lý tốt
đối với các nguồn lực bằng việc chia nhỏ file truy cập thành các hoạt động phụ
để đọc, viết và thực hiện. Ví dụ, nhiều người sử dụng có thể được phép để đọc sổ
tay hướng dẫn dành cho nhân viên của tập đoàn những không cho phép việc cập nhật
hoặc viết trên file. Chỉ giám đốc nhân sự sẽ viết lệnh truy cập cho sổ tay hướng
dẫn nhân viên, và quyền truy cập này được lưu giữ cùng với chứng nhận và mật
khẩu của giám đốc nhân sự trên ACL.
6.2. Quản lý hệ điều
hành:
Hầu hết các hệ điều hành (trừ những hệ điều hành dành cho máy
tính nhỏ) có hệ thống xác nhận tên và mật khẩu của người sử dụng được định vị.
Hệ thống này cung cấp cơ chế phụ an toàn cho các Web server trong máy chủ (host
computer) có hệ điều hành. Hệ điều hành UNIX (và các biến thể của nó) là một hệ
điều hành hoạt động phần lớn trên các nền Web server hiện nay. UNIX bao gồm một
số cơ chế bảo vệ cơ bản ngăn cản sự hiển thị không chính đáng và tăng cường tính
toàn vẹn ở cấp độ file. UNIX có nhiều cách thực hiện khác nhau, bao gồm AIX,
Irix Linux, HP-UX, SCO, Solais, SunOS và Ultrix. Mỗi một phương thức là một hoạt
động cụ thể của nhà cung cấp UNIX gốc do phòng thí nghiệm Bell của AT&T
(hiện nay được gọi là phòng thí nghiệm AT&T) vào năm 1969 tạo ra. Danh sách
quản lý việc truy cập và sự bảo mật tên sử dụng và mật khẩu có thể được phổ biến
nhiều nhất trong những đặc thù bảo mật của UNIX. Có tài liệu chứng tỏ là có đầy
đủ thông tin về các đặc điểm bảo mật của hệ điều hành (UNIX, Windows 2000...).
Các kết nối trực tuyến (Online Companion) cũng có một số kết nối tới những thông
tin này.